Close

About Viet SEO


WEB DESIGN & GOOGLE OPTIMIZATION

T: +84 917 212 969

* Website đang xây dựng, CHƯA CHÍNH THỨC sử dụng. Tin tức, bài viết, sản phẩm chỉ đăng làm mẫu!
* CẦN MUA TÊN MIỀN "KHOAHOC.TRUNGTAMNUOCHOA.ORG", vui lòng liên hệ 0908 744 256 - 0917 212 969 (Mr. Thanh)

* Dụng cụ phẩu thuật: 098.8955.504

Năm 1960, Hopkins (Anh) chế tạo ra kính soi dùng hệ thống thấu kính hình que cho hình ảnh rất sáng và sắc nét. Năm 1963, Storz lần đầu tiên truyền ánh sáng lạnh qua các sợi cáp quang mềm, giúp giảm thiểu nguy cơ bỏng các tạng và điện giật. Năm 1964, Kurrt Semm (Đức) chế ra máy bơm khí tự động điều chỉnh áp lực và lưu lượng khí vào ổ bụng thay cho máy bơm khí bằng tay trước đây. Ông cũng là người có công chế tạo nhiều dụng cụ nội soi như: kính soi với góc nghiêng, dụng cụ đốt cầm máu, móc đốt điện, que cột chỉ từ bên ngoài cơ thể, máy bơm rửa và hút tự động và chính Ông là người đầu tiên tiến hành cắt ruột thừa nội soi vào năm 1980.

Năm 1982, Fukuda (Nhật Bản) đã phát minh ra siêu âm nội soi (endo echography).

Năm 1983, Allyn đã phát minh ra hệ thống video dành cho ống soi mềm.

Năm 1986, người ta đã chế tạo được hệ thống camera nhỏ có vi mạch điện toán được gắn vào đầu ống soi giúp phóng đại và truyền hình ảnh từ ổ bụng ra màn hình.

Năm 1987, Phillip Mouret (Lyon – Pháp) tiến hành thành công trường hợp cắt túi mật nội soi đầu tiên trên người, mở ra một kỷ nguyên mới của phẫu thuật nội soi. Năm 1988 kỹ thuật này được áp dụng ở Mỹ (Reddick, Olsen) và sau phát triển nhanh chóng ứng dụng trên khắp thế giới và còn được gọi là "phẫu thuật xâm nhập tối thiểu" (minimally invasive surgery).



- Do những ưu điểm của phương pháp, ngay sau khi ra đời, phẫu thuật nội soi đã phát triển rất nhanh, rất mạnh cả về số lượng phẫu thuật và loại phẫu thuật. Hiện nay, phẫu thuật nội soi được áp dụng rộng rãi để điều trị nhiều bệnh lý ngoại ngoai khoa ổ bụng, lồng ngực, tiết niệu, sản phụ khoa, xương khớp, nội tiết, tai mũi họng, phẫu thuật thần kinh, cột sống… Nhiều loại phẫu thuật nội soi đã hoàn toàn thay thế phẫu thuật mở, có những loại phẫu thuật đang dần dần thay thế. Những năm gần đây, trên thế giới, nhiều loại phẫu thuật phức tạp nay đã có thể mổ nội soi với số lượng phẫu thuật phức tạp nay đã có thể mổ bằng nội soi với số lượng đáng kể và kết quả khá tốt như mổ nội soi cắt khối tá-tụy, mổ nội soi cắt gan lớn, mổ nội soi cắt lấy gan để ghép từ người cho sống, mổ nội soi cắt hoàn toàn bộ dạ dày có nạo vét hạch…

- Đồng thời với các tiến bộ không ngừng của khoa học và công nghệ, nhiều kỹ thuật mới đã và bước đầu đang được áp dụng trong phẫu thuật nội soi như mổ nội soi với ít lỗ đặt trocar (sử dụng một trocar có nhiều kênh đưa dụng cụ); phẫu thuật nội soi qua các lỗ tự nhiên (natural orifire transluminal endoscopic surgery – NOTES) như qua đường âm đạo, dạ dày, đại tràng; phẫu thuật nội soi ổ bụng với một đường rạch nhỏ (single incision laparoscopic surgery – SILS); phẫu thuật nội soi với robot hoặc robot hỗ trợ…

3. Phẫu thuật nội soi tại Việt Nam.

- Ở Việt Nam, trường hợp phẫu thuật nội soi cắt túi mật đầu tiên đã được thực hiện bởi Nguyễn Tấn Cường tại bệnh viện Chợ Rẫy ngày 23/9/1992. Những năm tiếp theo, phương pháp này đã được ứng dụng ở nhiều cơ sở y tế như: Bệnh viện Bình Dân (1993), Bệnh viện Việt Đức (11/1993), Bệnh viện Đại học Y dược Tp Hồ Chí Minh (5/1995), Bệnh viện 103 (4/1996), Bệnh viện 108 (9/1996)… Đến nay phẫu thuật nội soi cắt túi mật đã được áp dụng tại nhiều bệnh viện trong cả nước.



Tại Bệnh viện Đại học Y dược Tp Hồ Chí Minh, trong thời gian từ 5/1995 -5/2006 đã thực hiện được trên 12000 trường hợp phẫu thuật nội soi gồm 32 loại thuộc 8 chuyên khoa khác nhau, chiếm tỷ lệ 58% trong tổng số phẫu thuật của bệnh viện. Trong số đó nhiều nhất là mổ nội soi cắt mật (gần 9000 trường hợp), mổ nội soi cắt nang buồng trứng (trên 1000 trường hợp), mổ nội soi cắt ruột thừa (gần 650 trường hợp), mổ nội soi lấy sỏi đường mật (trên 500 trường hợp), lấy sỏi niệu quản (trên 300 trường hợp), phẫu thuật đại trực tràng nội soi (gần 300 trường hợp), mổ nội soi lồng ngực cắt hạch giao cảm (trên 250 trường hợp)…

Tại Bệnh viện 103 – Học viện Quân y, đã triển khai áp dụng phẫu thuật nội soi lần đầu tiên vào ngày 17/4/1996. Đến nay đã tiến hành được được trên 10000 trường hợp phẫu thuật nội soi gồm trên 30 loại thuộc 8 chuyên khoa khác nhau, trong đó nhiều nhất là mổ nội soi cắt u phì đại lành tính tuyến tiền liệt (trên 3000 trường hợp), mổ nội soi cắt ruột thừa viêm (trên 1000 trường hợp), mổ nội soi cắt túi mật (gần 900 trường hợp), mổ nội soi lồng ngực cắt hạch giao cảm (gần 200 trường hợp), mổ nội soi khớp gối (gần 200 trường hợp, mổ nội soi cắt đại trực tràng (trên 100 trường hợp), nội soi tán sỏi mật qua da (trên 100 trường hợp), mổ nội soi cắt tuyến giáp (gần 100 ca), mổ nội soi cắt tử cung (trên 70 ca); đặc biệt đã mổ nội soi cắt tuyến ức điều trị bệnh nhược cơ được trên 50 trường hợp vơi kết quả tốt.

4. Chỉ định và chống chỉ định của phẫu thuật nội soi.

Chỉ định phẫu thuật nội soi

Nhìn chung, có thể tiến hành phẫu thuật nội soi ở đại đa số các bệnh lý ngoại khoa.

- Các loại phẫu thuật nội soi đang tỏ rõ ưu thế với số lượng lớn là cắt túi mật, cắt ruột thừa, cắt nang buồng trứng, cắt u thì đại lành tính tuyến tiền liệt, lấy sỏi niệu quản, cắt chỏm nang gan, nang thận, lấy sỏi đường mật, cắt đại trực tràng, phẫu thuật Heller-Nissen, cắt hạch giao cảm ngực, phẫu thuật nội soi khớp gối, phẫu thuật nội soi chức năng xoang…

- Các phẫu thuật khác cũng đang được áp dụng ngày càng gia tăng như cắt tử cung, cắt thận, cắt tuyến thượng thận, cắt thực quản, cắt dạ dày, cắt tuyến ức, cắt tuyến giáp…

- Các phẫu thuật khó như cắt gan, cắt khối tá tụy… cũng đang bước đầu áp dụng với số lượng còn chưa nhiều.

Chống chỉ định mổ nội soi

- Bệnh lý tim phổi nặng.

- Rối loạn đông máu.

- Nhiễm khuẩn huyết.

- Thoát vị lớn thành bụng.

- Chấn thương có huyết động không ổn định hoặc phối hợp với chấn thương sọ não có nguy cơ tăng áp lực soi.



Có 2 loại màn hình là: TFT (mỏng) và CRT, chức năng là hiển thị hình ảnh phẫu trường. Hiện nay sử dụng loại mỏng với độ phân giải cao (nhưng phải phù hợp với độ phân giải của camera). Màn hình được đặt ngang tầm nhìn vơi phẫu thuật viên theo hướng chính diện, nên có 2 màn hình dành cho phẫu thuật viên chính và phẫu thuật viên phụ.

 Hệ thống này gồm ống kính soi, đầu camera và bộ xử lý tín hiệu CCU. Chức năng nhằm truyền tải tín hiệu hình ảnh thu tại phẫu trường tới màn hình.

- Camera – đầu thu CCD (charged coupled device) nhận tín hiệu photon và biến

Dụng cụ phẩu thuật

Dụng cụ dùng trong phẫu thuật khá phức tạp và đối với từng ca phẫu thuật bộ phận khác nhau thì có yêu cầu về dụng cụ phẫu thuật khác nhau. Trong bài viết này chúng tôi sẽ chia sẻ những thông tin về các loại dụng cụ dùng trong phẫu thuật cơ bản. Dụng cụ cầm giữ mô có răng hay không có răng. Dựa vào nguyên tắc, dụng cụ có răng có thể gây sang chấn mô. Các dụng cụ có răng nhỏ không hay ít răng gây sang chấn. Tuy nhiên, dụng cụ có răng sẽ có tác dụng cầm giữ mô chắc chắn hơn các dụng cụ không răng.
Bàn mổ Mặc dù không có bàn mổ (bàn phẫu thuật) nào hoàn hảo., Người bệnh sẽ nằm xuyên suốt thời gian diễn ra ca mổ. Mục đích bàn phẫu thuật của là cố định bệnh nhân một chỗ, để bác sỹ phẫu thuật dễ
Thanh nẹp giấy Thanh nẹp giấy thường có trọng lượng nhẹ., Thanh nẹp kết hợp với Pallet giấy hỗ trợ đóng gói cho thùng carton rất chắc chắn. Chúng mang lại sự an toàn tuyệt đối cho các sản phẩm trong quá

Hơn nữa, có nhiều yếu tố rủi ro khác nhau có thể dẫn đến tổn thương cho bệnh nhân do định vị tư thế không đúng, chẳng hạn như:

    Thời gian phẫu thuật kéo dài (hơn 03 giờ)
    Tình hình xương khớp của bệnh nhân
    Sự cố về da do lão hóa
    Suy dinh dưỡng, hạ kali máu, thiếu máu, tê liệt, béo phì, cực kỳ gầy hoặc tiểu đường

Các tư thế phẫu thuật phổ biến nhất thường là: nằm ngửa, Trendelenburg, Trendelenburg ngược, nằm sấp, phẫu thuật gắp sỏi, nằm nghiêng.

    Nằm ngửa: đây là tư thế tự nhiên của cơ thể khi nghỉ ngơi, làm cho nó trở thành tư thế phổ biến nhất để phẫu thuật. Các biến chứng thường gặp khi phẫu thuật liên quan đến tư thế nằm ngửa là đau lưng và phản ứng điểm áp lực.
    Tư thế Trendelenburg: là một biến thể của tư thế nằm ngửa. Thân trên của bệnh nhận được hạ xuống và bàn chân nâng lên. Tư thế này cho phép hình dung tối ưu các cơ quan vùng chậu trong quá trình nội soi và thủ thuật bụng dưới.
    Tư thế Trendelenburg ngược: ngược lại với tư thế Trendelenburg, thân trên của bệnh nhân được nâng lên và chân hạ xuống. Tư thế này thường được sử dụng trong các thủ tục đầu và cổ.
    Tư thế nằm sấp: tư thế này, bệnh nhân nằm sấp và đầu của họ quay sang một bên. Vị trí này được sử dụng phổ biến nhất cho các thủ tục cột sống cổ, lưng và trực tràng.



    Tư thế phẫu thuật gắp sỏi: Bệnh nhân được đặt ở tư thế nằm ngửa, chân của họ được nâng cao và dạng ra hai bên. Cần bàn đạp cố định chân cho vị trí này.
    Tư thế ngồi: Còn được gọi là tư thế của Fowler, bệnh nhân ở vị trí này đang ngồi ở góc 90 độ. Đầu gối hơi uốn cong và bàn chân được đặt trên một tấm lót chân. Vị trí này là lý tưởng cho phẫu thuật thần kinh, phẫu thuật khuôn mặt và một số phẫu thuật vai.
    Nằm nghiêng: tư thế này thường dùng cho phẫu thuật hông, ngực, thận…
    
Tính năng và thông số kỹ thuật:

    Là loại bàn mổ tổng hợp điều khiển bằng thủy lực.
    Sử dụng cho các phòng mổ, phòng khám, cấp cứu. Có thể sử dụng cho nhiều phẫu thuật khác nhau: phẫu thuật tổng quát, mổ thận, tiểu phẫu, sản khoa …
    Bàn gồm 04 tấm. Tấm để đầu, tấm để lưng, tấm để mông và tấm để chân.
    Có 05 tấm đệm bọc da. Mỗi tấm có độ dày khoảng 40 mm.
    Tất cả bộ phận của bàn có thể tháo ra và lắp vào dễ dàng.
    Thân bàn được Học bằng thép không gỉ chất lượng cao. Trên thân bàn có lắp các rãnh bằng Inox chất lượng cao. Rãnh được dùng để gắn các phụ kiện.
    Điều chỉnh các tư thế của bàn bằng hai tay quay.
    Điều chỉnh lên xuống của thân bàn bằng pedal thủy lực.
    Chân đế bàn được Học bằng thép không gỉ và được phủ một lớp sơn tĩnh điện. Dễ dàng vệ sinh và khử khuẩn bằng hóa chất
    Đế bàn có 03 bánh xe giúp di chuyển dễ dàng. Chân đế có bộ phận khóa hãm để cố định chân bàn.
    Kích thước bàn: 450 x 1890 mm (Rộng x Dài).
    Chiều cao điều khiển từ: từ 750 – 1000 mm.
    Tư thế nghiêng hai bên trái – phải: ± 200.
    Tư thế nghiêng hai đầu: ± 250.
    Tư thế mổ thận: 1150.
    Tấm đỡ lưng: lên cao 900. Xuống dưới
    Tấm đỡ đầu: lên trên 150. Xuống dưới 900.
    Tấm đỡ chân: lên trên 150. Xuống dưới 900.
    Xoay ngang: 3600.



Bác sĩ phẫu thuật sẽ là người vào sau cùng khi mọi công đoạn trong phòng mổ như gây mê, kiểm tra tình trạng bệnh nhân đã sẵn sàng.

PGS Hoàng Công Đắc, Giám đốc chuyên môn Bệnh viện Đa khoa Medlatec, là bác sĩ ngoại khoa với gần 50 năm trong ngành, từng thực hiện hàng chục nghìn ca phẫu thuật. Vị bác sĩ này đã có những chia sẻ về quy trình phẫu thuật và khả năng nhầm lẫn khi thực hiện phương pháp điều trị này.

Ứng dụng rộng rãi trong phẫu thuật tổng quát, cấp cứu và dự phòng.

-        Mặt bàn mổ bao gồm 4 phần và có trang bị khay đặt cassett chụp X-quang phía dưới.  

-        Được trang bị với 2 thanh ray 2 bên hông bàn mổ dùng gắn các phụ kiện

-        Điều khiển dịch chuyển bằng điện

-        Thân bàn mổ, hộp nhông truyền động được phủ kim loại rất vệ sinh.

-        Nệm bàn mổ được xử lý đặc biệt nhằm dể dàng vệ sinh.

-        Bệ bàn mổ được trang bị một đai ốc khóa dùng để dừng và cố định bàn mổ tại 1 nơi nhất định.

-        Có 4 bánh xe chịu tải trọng cao và dể dàng di chuyển.

-        Có khóa dịch chuyển bằng cần đạp

Các tính năng:

-        Ứng dụng rộng rãi trong phẫu thuật tổng quát, cấp cứu và dự phòng.

-        Mặt bàn mổ bao gồm 4 phần và có trang bị khay đặt cassett chụp X-quang phía dưới.  

-        Được trang bị với 2 thanh ray 2 bên hông bàn mổ dùng gắn các phụ kiện

-        Điều khiển dịch chuyển bằng điện

-        Thân bàn mổ, hộp nhông truyền động được phủ kim loại rất vệ sinh.

-        Nệm bàn mổ được xử lý đặc biệt nhằm dể dàng vệ sinh.

-        Bệ bàn mổ được trang bị một đai ốc khóa dùng để dừng và cố định bàn mổ tại 1 nơi định.



-        Có 4 bánh xe chịu tải trọng cao và dể dàng di chuyển.

-        Có khóa dịch chuyển bằng cần đạp

Quảng Cáo